Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Mùa đông năm nay


Kể từ dạo đó, mùa đông dường như ấm áp hơn bởi không gian của màu đỏ của ánh đèn, của người xe tấp nập và của tiếng nhạc hân hoan. Đêm Chúa vào đời, người người đều cảm nhận được hơi ấm từ máng cỏ, bình an nơi trẻ thơ Giê su. 





Thứ Tư, 28 tháng 11, 2012

GỌI TÊN NHAU


Khi chúng ta cất tiếng khóc chào đời . Cái mà một sinh linh bé nhỏ còn chưa biết gì có được đầu tiên trên cuộc đời này: Đó là một cái tên. Một cái tên sau chín tháng mười ngày hoặc có thể lâu hơn nữa... Sau bao nhiêu ngày suy nghĩ, đắn đo bố mẹ đã đặt cho ta. Và từ đó cái tên gắn liền với ta. Nó sẽ theo ta đi đến hết cõi tạm trần gian. Và có thể còn lưu lại mãi mãi... trên một tờ gia phả.

Một cái tên trong giấy khai sinh giúp ta hiện hữu. Một cái tên trong sổ hộ khẩu giúp ta là một công dân hợp pháp. Một cái tên trong sổ điểm giúp ta có chỗ ngồi trong lớp học. Một cái tên trong sổ lương giúp cho ta tồn tại. Một cái tên trong giấy kết hôn giúp ta có một tổ ấm. Tên còn theo ta và đại diện cho ta ở rất nhiều nơi, nhiều chỗ mà cuối cùng là trong giấy chứng tử và nằm lại vĩnh viễn trên một bia đá lạnh lẽo.

Trong cuộc đời của mỗi chúng ta chẳng ai có thể mãi gọi tên nhau được. Dù cho đó là người thân hay là người mà ta yêu hơn chính bản thân ta. Vì trong một đời người chúng ta còn có biết bao nhiêu cái tên để mà gọi...Khi đau khổ ta gọi tên cha mẹ. Khi cần chia sẻ ta gọi tên bạn bè. Khi tức giận ta gọi tên kẻ thù và khi yêu thương ta gọi người yêu dấu ... Mỗi cái tên chỉ chiếm một phần nào đó trong tâm hồn của ta. Dù cho nó có để lại trong ta yêu thương chất ngất hay thù hận khôn cùng...

Và ta cũng không ích kỷ mong ai đó sẽ mãi gọi tên ta. Chỉ mong sao trong dòng đời xuôi ngược, hợp tan nếu may mắn được gặp lại nhau thì xin còn... nhớ tên nhau... mà gọi.

Vậy chúng ta hãy sống sao cho mỗi một lần gặp gỡ là một lần còn nhớ được tên nhau. Để một tháng ,một năm hay có thể mười năm sau gặp lại trong ký ức của mỗi người vẫn còn hiện về một cái tên...

Hãy sống và đừng để tên của ta lẫn vào muôn vàn cái tên khác giống nó trên đời này. Con người là hữu hạn nhưng cái tên là vô hạn... Hãy sống sao cho đến khi nhắm mắt lìa đời vẫn được một lần...
XIN CÒN GỌI TÊN NHAU...
                                          Pierre Marie  (st)

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

Ánh sáng và bóng tối



Một lúc nào đó bạn nghĩ rằng, bóng tối dày đặc phủ kín quanh cuộc sống và xã hội, bạn mong ước thắp lên những ngọn sáng để tiêu diệt bóng tối. Bạn nỗ lực tìm kiếm và vất vả đấu tranh sao cho ánh sáng được lan tỏa. Nhưng dường như sức mạnh của bóng tối quá khủng khiếp và tàn độc, dường như nó đã được cho phép thống trị để hủy diệt. Từng mầm sống nhỏ bé bị cắt bỏ, những chồi non bị bẻ gãy và cành cây xanh lá đợi kết hoa trái lần lượt bị quăng vào nơi u tối.
Đẩy lùi bóng tối chỉ có thể là ánh sáng, ánh sáng từ Đức ái: nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.
Và          Đức ái   tha thứ tất cả,
           tin tưởng tất cả,
           hy vọng tất cả,
           chịu đựng tất cả.
                    (1Cr 13,4-7)
Đức Ái tự thân là ánh sáng, ánh sáng thực sự không cần nỗ lực đẩy lùi bóng tối, ánh sáng thì không cần phe cánh, không cần phô trương thanh thế, ở đâu có ánh sáng ở đó bóng tối và sự ác không còn chỗ trú ngụ, tồn tại.
Tại sao ta cứ phải đi tìm kiếm một thứ ánh sáng giả tạo nào đó nằm ngoài Thiên Chúa?
                                        MB 11.10.2012


Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

RỒI SẼ QUA


Vui - buồn
Ngọt - đắng
rồi cũng qua đi
Đường còn xa 
            còn kiếm tìm
Nhưng
Hành trang nhẹ dần khi chuyến du lịch sắp kết thúc.
Không còn mang vác nặng nề
            vòng tay dễ dang ra
                     ôm ấp những thân thương.
     
                        HP 31/08/2012
 




   

Thứ Hai, 20 tháng 8, 2012

NGÔN NGỮ TÌNH YÊU



    Sách Sáng thế 11,1-9 kể câu chuyện về Tháp Babel.


 
    
     Bấy giờ thiên hạ chỉ nói một thứ tiếng, sau khi định cư tại đồng bằng Senna, họ bàn luận với nhau: - Ta hãy nung gạch và xây một ngọn tháp chọc trời, trước khi phân tán tới mọi miền trên mặt đất. Trước ý định đầy kiêu căng và ngông cuồng đó, Thiên Chúa đã khiến tiếng nói của họ trở nên lộn xộn, người này không còn hiểu được người kia. Thế là họ đành phải ngưng việc xây tháp và ra đi mỗi người một ngả. Hình ảnh tháp Babel mượn từ các tháp ziggurat miền Lưỡng Hà: tháp vuông, nhiều tầng, càng cao tầng nhỏ lại. Những tháp này xây trong khu vực đền thờ với mục đích tôn giáo là để bắt liên lạc với thần trên cao bằng dâng lễ vật và làm bệ để thần lên xuống với con người. Ngày nay còn có nhiều di tích về các tháp này. Tác giả Thánh kinh mượn hình ảnh các tháp Ziggurat để cắt nghĩa tại sao loài người lại chia rẽ và phân tán, từ đó dạy bài học tôn giáo. Babel bởi động từ balal (làm cho lộn xộn). Tác giả dùng hình ảnh xây tháp Babel để chỉ tội cộng đồng của con người, muốn dựa vào sức lực và tài năng của mình để chống lại Chúa, gạt bỏ Chúa mà tự quyết định cho mình. Trong Cựu ước, Babel là kinh đô của một đế quốc hùng mạnh tượng trưng cho sự kiêu căng.
Một khi con người đã loại bỏ Chúa, tự nhiên chia rẽ và phân tán với đồng loại. Kiêu căng gây chia rẽ. Thiên Chúa là duy nhất và là giềng mối hiệp nhất. Sự hiệp nhất chỉ có thể được tái lập bởi và quanh Thiên Chúa. Ngày Hiên Xuống, Thánh Thần sẽ hiệp nhất nhân loại quanh Đức Kitô Phục Sinh (Cv 2,1-11). Thánh Thần làm vết thương của tháp Babel được lành. Thánh Thần là nguyên lý đoàn kết và hiệp nhất. Thánh Thần làm cho con người hiểu nhau, gần nhau, và giúp Giáo Hội trở thành Giáo Hội của mọi dân tộc.
Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, một tình trạng mới đã được nảy sinh. Bấy giờ các môn đệ đang tụ họp ở một nơi, bỗng dưng có tiếng từ trời đến, ào ào như gió thổi, ùa vào nhà nơi các ông đang hội họp. Lại thấy có hình lưỡi lửa tản ra và đậu xuống trên từng người. Tất cả đều được đầy tràn Chúa Thánh Thần và bắt đầu nói được nhiều thứ tiếng khác nhau. Trong thời gian lễ Ngũ Tuần, có nhiều người Do thái từ khắp các nơi trở về Giêrusalem. Nghe tiếng ồn, họ liền tuốn đến. Và ai nấy đều bỡ ngỡ vì mỗi người đều nghe các Tông đồ nói tiếng của mình. Họ ngạc nhiên, sửng sốt, thán phục và bàn tán cùng nhau: - Phải chăng chúng ta đều nghe họ dùng tiếng thổ âm của mình mà nói đến những sự cao trọng của Thiên Chúa? Đây chính là một cuộc tụ họp đông đảo mà mọi người đều hiểu được nhau và cảm thông với nhau. Có được như vậy là do tác động của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần là nguồn sức sống mãnh liệt, là sự trẻ trung của Giáo hội, là năng lực đổi mới thế giới. Ngài như luồng gió cường tráng, như ngọn lửa bừng bừng. Luồng gió và ngọn lửa ấy đã khơi dậy nguồn năng lực tiềm ẩn nơi những bác thuyền chài thất học, biến họ thành những con người thay đổi thế giới. Nhận lãnh ơn Chúa Thánh Thần là nhận lãnh sứ mạng hành động.
Qua hình ảnh lưỡi lửa và ơn nói nhiều thứ tiếng nơi các Tông đồ, chúng tta nhận thấy ngôn ngữ Chúa Thánh Thần dùng đã liên kết và tạo nên sự cảm thông. Đó chính là thứ ngôn ngữ của tình yêu. Thiếu vắng Ngài, thiếu vắng tác động của Ngài, hay nói đúng hơn, thiếu vắng tình yêu, chúng ta không thể hiểu biết nhau, xích lại gần nhau và cảm thông với nhau, khi đó hận thù sẽ bùng nổ.
Vào năm 1887, một người Ba Lan tên là Zamenhof, đã tạo ra và cổ động cho một thứ ngôn ngữ quốc tế, để mọi người có thể sử dụng một cách dễ dàng. Tuy nhiên, thứ ngôn ngữ quốc tế này đến nay vẫn giậm chân tại chỗ và thế giới vẫn còn tràn ngập những hận thù và chiến tranh. Sở dĩ như vậy vì người ta không sử dụng thứ ngôn ngữ của tình yêu và không đặt tình yêu làm nền tảng cho mọi mối liên hệ.
Tình yêu chân chính được coi như là hoạt động của Chúa Thánh Thần. Tình yêu là một thứ ngôn ngữ mà ai cũng có thể hiểu được. Nó không phải chỉ được nói bằng lời, bằng tiếng, mà còn được nói bằng thái độ, bằng cử chỉ, bằng việc làm và bằng cả cuộc sống ngập tràn tình bác ái của mình. Thực vậy, ai trong chúng ta cũng có thể hiểu được một ánh mắt thông cảm, một cử chỉ thân thiện, hay một việc làm giúp đỡ. Thứ ngôn ngữ tình yêu này không phải chỉ giúp chúng ta hiểu được nhau, mà hơn thế nữa, còn giúp chúng ta hiểu được chính Thiên Chúa và tiến đến với Ngài. Vì Thiên Chúa là tình yêu như thánh Gioan định nghĩa. Rất nhiều khi nhờ những hành động bác ái yêu thương mà những kẻ tội lỗi biết đường ăn năn trở về cùng Chúa. Trong đời sống gia đình cũng như trong sinh hoạt xã hội, đừng nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ của hận thù, hiềm khích. Đừng nói với nhau bằng ngôn ngữ của chia rẽ, nghi kị. Hãy nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ của tình yêu, ngôn ngữ của Chúa Thánh Thần. Vì ngôn ngữ của tình yêu chính là ngôn ngữ tạo được sự cảm thông và bất cứ ai cũng có thể hiểu được. Máy vi tính là phát minh hiện đại của con người. Máy cũng có một thứ ngôn ngữ riêng. Ngôn ngữ của máy vi tính xây dựng trên cơ sở lý luận toán học và sự chính xác. Ngôn ngữ máy vi tính giúp con người rất nhiều trong việc thông tin và trao đổi liên lạc với nhau nhanh chóng. Trong đời sống, con người chúng ta dùng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ như Anh, Pháp, Việt Nam... cho nhu cầu thông tin liên lạc với nhau. Nhưng có một thứ ngôn ngữ ngay từ thuở sơ sinh ai cũng có, cũng biết: ngôn ngữ tình yêu, ngôn ngữ vỗ về âu yếm, ngôn ngữ sưởi ấm tâm hồn. Khi ngôn ngữ này được nói ra bằng âm thanh hay biểu lộ qua nét mặt nụ cười của ông bà cha mẹ, anh chị em, tất cả mọi người đều hiểu được cả. Ngôn ngữ tình yêu phát xuất từ trái tim tâm hồn, nên gọn nhẹ trong sáng và truyền đi tín hiệu nhanh chóng nhạy cảm ngay từ những giây phút đầu tiên của sự sống một con người. Qua ngôn ngữ tình yêu, mối liên lạc tình người được xây dựng từ cha mẹ tới con cái, con người với nhau trong đời sống.
Ngôn ngữ tình yêu không viết bằng mẫu tự A B C hay hình vẽ biểu tượng như chữ Nho, chữ Thái lan, chữ Ả rập... cũng không bằng những dấu hiệu chương trình lý luận toán học như ngôn ngữ của máy vi tính. Ngôn ngữ tình yêu từ bẩm sinh đã nằm ẩn sâu trong trái tim tâm hồn mỗi người. Ai ai cũng có chương trình ngôn ngữ đó và đều có thể sử dụng được chương trình này. Dù là tiếng mẹ đẻ, ta cũng cần phải học, phải mài giũa, phải sửa đổi mới hoàn chỉnh trong sáng văn phạm cùng câu cú. Dù là ngôn ngữ đã được hệ thống và cài sẵn chương trình chạy trong máy vi tính, người sử dụng máy cũng vẫn phải học cách sử dụng điều khiển sao cho đúng không bị sai lầm. Những sai lầm trong tiếng mẹ đẻ và trong ngôn ngữ máy vi tính là do con người sử dụng gây ra. Và chúng ta phải điều chỉnh lại cách sử dụng cho đúng. Trong ngôn ngữ tình yêu cũng thế, khi chương trình ngôn ngữ này chạy không đúng là do con người gây ra. Thiên Chúa ghi trong tâm hồn mỗi người chương trình ngôn ngữ tình yêu. Khi sử dụng hoặc là con người không dùng đúng chương trình hoặc là muốn sử dụng sai của riêng mình. Vì thế sinh ra sai lầm và không còn truyền đi tín hiệu thông tin, không hiểu nhau được nữa. Những sai lầm đó là do thiếu tình liên đới với nhau, do chỉ chú ý tìm quyền lợi riêng tư cho mình. Ngôn ngữ tình yêu kêu gọi sự hiểu biết thông cảm với nhau, niềm vui, niềm hy vọng, sự tha thứ làm hòa và tình liên đới trong cuộc sống. Ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, các thánh Tông đồ đã tìm ra được ngôn ngữ chung cho cả nhân loại. Ngôn ngữ tình yêu do Chúa mang đến và ghi khắc trong tâm hồn con người. Qua ngôn ngữ này ai cũng hiểu được Tin mừng ơn cứu độ của Chúa và cùng nhau tìm về với Chúa, với nhau, mọi người là anh em con một Cha. Chúa Thánh Thần mang từ trời cao đến cho con người ngôn ngữ của Chúa Cha, ngôn ngữ này khác gì là “tiếng mẹ đẻ” của con người: ngôn ngữ tình yêu – ngôn ngữ của toàn cầu. Kinh Thánh đã được dịch ra hơn hai ngàn ngôn ngữ. Chúng ta còn cần dịch ra một thứ ngôn ngữ ai cũng hiểu, đó là ngôn ngữ của phục vụ và yêu thương.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy thắp lên trong lòng chúng con ngọn lửa tình yêu, để chúng con luôn nói với nhau bằng ngôn ngữ yêu thương và hiệp nhất.
LM. Giuse Nguyễn Hữu An

Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2012

HOA QUẢ CHÚA THÁNH THẦN


Vào thời Sáng thế, sau khi Thiên Chúa tạo dựng vạn vật và con người, Ngài ban cho con người quyền làm chủ và hưởng dùng. Nhưng, có một loại cây Thiên Chúa cấm con người không được ăn, đó là trái Cấm – trái cây của trí tuệ. Vậy, tại sao, tại sao Thiên Chúa không muốn cho con người ăn trái đó mà còn dựng nên cây trái đó? Chúa muốn đặt bẫy con người chăng? Con người sẽ bất phục tùng là điều sớm muộn, vì còn có Satan chung sống trên mặt đất xinh đẹp này. Thiên Chúa ác quá! Vậy tôi cứ mãi trăn trở cho chính mình? Thiên Chúa mà tôi “cảm thấy” không như vậy, Thiên Chúa của từ nhân va yêu thương. Nhưng tại sao, con người lại phải sinh ra? cơ may tìm kiếm được bình an và hoan lạc là rất mong manh, vì cái “mầm” Thiên Chúa bị “bể khổ” chèn ép, vùi lấp khó mà lớn lên được nói chi đến sinh hoa kết trái. Hay Thiên Chúa đã sai lầm? Ngài sai trong khi đa số nhân loại lại tung hô “Chúa không lầm khi Ngại dựng nên con”?
***
Sau khi Chúa Giêsu lên trời, các đặc sủng của Chúa Thánh Thần được trao ban cách ào ạt nơi trần thế. Chúng ta còn gọi thời đại này là thời đại mưa ân sủng. Khôn ngoan, Hiểu biết, Lòng tin, và chữa lành... có sẵn trên mặt đất, chúng ta chỉ việc đón nhận.“Thầy ra đi thì có lợi cho anh em... nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em” (Ga 16, 7). Rõ ràng, Thiên Chúa đã tạo dựng hoa trái này cho con người và chờ đợi ngày con người trưởng thành đủ để đón nhận trái cây này, con người sẽ có được hiểu biết của Thiên Chúa và kết hợp với vinh quang và quyền năng của Ngài. Ôi! con người thật ngớ ngẩn! Thiên Chúa Cha đã vì yêu mà nói trước “không được ăn cây trái đó, ngày nào các ngươi ăn trái đó, các ngươi sẽ phải chết”. Vậy mà, tổ tông đã đã bất chấp cái chết mà bất phục tùng, khước từ tình yêu của Thiên Chúa Cha để ăn bằng được trái cây đó. Và cũng thật tiếc, đến nay, đây là thời điểm Thiên Chúa muốn chúng ta lãnh nhận trái cây của trí tuệ. Nhưng hình như, lúc này chúng ta lại không cần đến nó, chúng ta sợ nó, chúng ta có tư duy và kiến thức của chính mình. Thực sự con người thấy run sợ trước sự khôn ngoan, hiểu biết, và lòng tin vào Thiên Chúa. Biết Thiên Chúa, con người mất hết tất cả những gì chúng ta coi là có, là của mình. Thật khó lắm, khó lắm! Và Thiên Chúa cứ phải kiên nhẫn chờ đợi.
***
Sau khi Chúa Giêsu về trời, theo lời dạy của Thầy Chí Thánh, các tông đồ và một số người phụ nữ, cùng Đức Maria trở về nơi trú ngụ “đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện”. Lúc này, họ không còn muốn trở về quê quán và gia đình, họ chỉ tin tưởng và mong chờ vào điều “ít lâu nữa”“sẽ có lợi hơn cho anh em” mà Chúa Giêsu đã hứa. Hoàn toàn phó thác cho Chúa, thì “bùm” Thần Khí Chúa tràn đầy trên họ. Họ bắt đầu sự hiểu biết đầy khôn ngoan và mạnh mẽ, các tông đồ “đạp bung cửa mà đi”. Tất cả, họ bát đầu một cuộc đời mới, sống cho Chúa Giêsu và chết cũng vì Chúa Giêsu. 
Uớc ao của con là được thuộc về Chúa. Lạy Chúa Thánh Thần! Bạn thân chí ái của linh hồn chúng con! xin hãy đến đổi mới chúng con.
                                   Muối Biển (18/8/2010)